Pháp Chính được đánh giá là có thể "sánh với 'thiên
tài' Quách Gia của Tào Ngụy". Nhiều ý kiến cho rằng, ông mới là "đệ nhất quân
sư" của Lưu Bị, địa vị quan trọng hơn Khổng Minh.
Pháp Chính (176 - 220), tự Hiếu Trực, người huyện
Mi, Thiểm Tây ngày nay, là một trong những mưu sĩ hàng đầu của thế lực quân
phiệt Lưu Bị thời Tam Quốc.
Ban đầu, Pháp Chính là thủ hạ của Lưu Chương - quân
phiệt Tây Xuyên. Sau này, khi Lưu Bị vào đất Thục, Pháp Chính về làm mưu thần
cho Bị, được bị rất tín nhiệm và kính trọng.
~ Bỏ Lưu Chương, theo Lưu Bị
Những năm đầu thời Kiến An, thiên hạ đói nghèo,
Pháp Chính cùng đồng hương Mạnh Đạt cùng vào Thục, đầu quân cho Lưu
Chương.
Tuy nhiên, Chương không phải người biết trọng dụng
nhân tài, cho nên rất lâu sau Pháp Chính mới "leo" lên được chức Huyện lệnh Tân
Đô, sau đó được phong làm Quân nghị hiệu úy.
Pháp Chính có tài mà không gặp thời, lại thường
xuyên bị người Thục ghẻ lạnh vì là "kẻ ngoại lai". Ông vì điều này mà thường tỏ
ra buồn khổ.
Quan Biệt giá Ích Châu Trương Tùng là bằng hữu của
Pháp Chính, cũng cảm thấy Lưu Chương không phải nhân vật có thể thành đại sự.
Trương cũng chung tâm trạng với Pháp Chính.
Năm Kiến An 13 (208), Trương Tùng đi sứ Tào Tháo,
trở về khuyên Lưu Chương đoạn tuyệt với Tào mà quay sang giao hảo với Lưu
Bị.
Cùng năm đó, liên minh Lưu Bị - Tôn Quyền đại thắng
Tào Ngụy tại Xích Bích, thế lực cùng thanh danh Lưu Bị vang dội, khiến Lưu
Chương rất tin tưởng cử ngay Trương Tùng đi sứ sang gặp Lưu
Bị.
Trương Tùng nhân cơ hội này tiến cử Pháp Chính cho
Bị. Ban đầu Chính còn thoái thác, nhưng rồi cũng phải "bất đắc dĩ" tới diện kiến
Lưu Bị.
Lưu Bị gặp được Pháp Chính thì "dùng ân đức thu
nạp", khiến Pháp Chính cảm thấy Bị xứng đáng là minh chủ "hùng tài đại lược", có
thể theo phò tá.
Pháp Chính trở về Ích Châu, âm thầm mưu tính cùng
Trương Tùng, quyết định "ngầm" tôn Lưu Bị làm
chủ.
Năm Kiến An 16 (211), Lưu Chương nghe tin Tào Tháo
chuẩn bị chinh phạt Trương Lỗ, Chương vô cùng lo sợ Tào "nuốt" xong Hán Trung sẽ
nhòm ngó ích Châu.
Trong lúc này, Trương Tùng khuyên Lưu Chương "đón"
Lưu Bị vào Thục, để Bị thảo phạt Trương Lỗ, chiếm Hán
Trung.
Pháp Chính nhận lệnh làm sứ giả sang "mời" Lưu Bị
đưa quân vào Thục. Đây cũng là thời điểm Pháp Chính "chính thức" phản lại Lưu
Chương, hiến kế cho Bị.
"Các hạ (Lưu Bị) là anh tài cái thế, Lưu Chương vô
năng không thể làm minh chủ.
Nay Trương Tùng làm nội ứng, giúp đoạt Ích
Châu.
Dùng Ích Châu trù phú làm căn cơ, lấy địa thế hiểm
trở làm chỗ dựa mà thành đại nghiệp, dễ như trở bàn
tay".
Chính sách "Long trung đối" của Gia Cát Lượng nhận
định rằng, Lưu Bị muốn đoạt thiên hạ thì buộc phải chiếm được Kinh Châu và Ích
Châu.
Bọn Pháp Chính, Trương Tùng "trở mũi giáo với Lưu
Chương" chính là cơ hội trời ban. Lưu Bị lập tức chớp lấy thời cơ, thống lĩnh
đại quân vào Thục.
Năm Kiến An 17 (212), Lưu Bị vờ bằng lòng với Lưu
Chương thảo phạt Trương Lỗ, dẫn quân tiến vào Gia Manh (tên địa
danh).
Sự việc bại lộ khiến Trương Tùng bị giết, Lưu Bị
hoàn toàn "trở mặt" với Lưu Chương, xua quân tấn công Thành
Đô.
Quan Tòng sự Trịnh Độ hiến kế Lưu Chương dùng kế cố
thủ "khiến quân Lưu Bị không đánh mà tan". Bị vô cùng lo
lắng.
Tuy nhiên, Pháp Chính nêu ra nhận định, Lưu Chương
mặc dù bất tài, nhưng cũng là quan Châu mục yêu dân, cho nên sẽ không sử dụng kế
sách phương hại đến dân chúng.
Quả nhiên, Lưu Chương nói - "Ta nghe nói đánh địch
để an dân, chưa nghe nói dùng dân để chống địch", và bác bỏ phương án của Trịnh
Độ.
~ Trọng thần của Lưu Bị
Sau khi Lưu Chương đầu hàng, Lưu Bị độc chiếm Ích
Châu, nhờ có Pháp Chính bày mưu hiến kế mà nhanh chóng tạo được quan hệ tốt với
giới phú hào địa phương.
Pháp Chính được Bị phong làm Thái thú Thục quân -
Dương Vũ tướng quân.
Bị lại lệnh Pháp Chính cùng 4 Gia Cát Lượng, Lưu
Ba, Lý Nghiêm, Y Tịch chế định ra "Thục khoa" - bộ pháp luật cai trị Ích Châu,
thay đổi tình trạng lỏng lẻo dưới thời Lưu
Chương.
Giai đoạn này, Pháp Chính vừa kiểm soát đại quyền
hành chính Thục quận - thủ phủ Ích Châu, vừa là đại thần "cốt lõi" bên cạnh Lưu
Bị.
Tính cách Pháp Chính ân oán phân minh. Sau khi nắm
giữ quyền lớn đã không quên báo đáp những người giúp đỡ mình, song cũng không bỏ
qua tư thù với những người có mâu thuẫn trong quá
khứ.
Đây cũng là điểm khiến sử gia Trần Thọ - tác giả
"Tam Quốc Chí" - đánh giá ông là "phẩm đức không vẹn
toàn".
Có người tố cáo với Khổng Minh, hy vọng ông có thể
vạch tội Pháp Chính với Lưu Bị, không để Chính "tác oai tác
quái".
Nhưng bản thân Gia Cát Lượng hiểu rõ, Lưu Bị được
Tây Xuyên là công lớn của Pháp Chính. Chính được Bị tin tưởng tuyệt đối, cho nên
Lượng cũng không tiện nói nhiều.
~ Đoạt Hán Trung - Tào Tháo cảm
thán
Năm Kiến An 22 (217), Tào Tháo sau khi dễ dàng hàng
phục Trương Lỗ, không tiếp tục xua quân đánh Ích Châu, mà chỉ để lại Hạ Hầu
Uyên, Trương Hạp cố thủ Hán Trung.
Pháp Chính lập tức hiến kế lên Lưu Bị, nêu rõ nhận
định Tào Ngụy chắc chắn có vấn đề nội bộ, và chỉ ra ý nghĩa của việc đoạt Hán
Trung - "Thượng, có thể thảo phạt 'quốc tặc' (chỉ Tào Tháo), tôn vinh Hán thất,
chiếm lấy 2 châu Ung - Lương, mở rộng quốc thổ.
Hạ, đoạt được địa bàn 'cốt lõi', phục vụ chiến lược
lâu dài".
Lưu Bị rất tán đồng quan điểm của Pháp Chính, bèn
dẫn quân đánh Hán Trung.
Năm Kiến An 24 (219), Lưu Bị dẫn quân hạ trại ở
Định Quân sơn, đối đầu với tướng Ngụy Hạ Hầu
Uyên.
Khi ấy, Hạ Hầu Uyên trấn thủ cứ điểm phía Nam là
Tẩu Mã cốc, Trương Hạp trấn thủ cứ điểm phía Đông là Quảng
Thạch.
Pháp Chính dùng kế "dương Đông kích Tây", để Lưu Bị
lĩnh hơn 10.000 tinh binh phân thành 10 đội, luân phiên tấn công Quảng Thạch
trong đêm.
Trương Hạp đối kháng với Lưu Bị, dù không để mất cứ
điểm nhưng cũng khó chống cự với đòn "xa luân chiến" của Bị. Hạp cầu viện Hạ Hầu
Uyên.
Hạ Hầu Uyên buộc phải chia một nửa lực lượng chi
viện cho Trương Hạp, trong khi bản thân tiếp tục cố thủ tuyến
nam.
Binh lực của Uyên vừa giảm, Thục quân lập tức tập
kích Tẩu Mã cốc, phóng hỏa thiêu Lộc Giác - công sự phòng vệ của
Ngụy.
Hạ Hầu Uyên bất đắc dĩ phải lĩnh 400 quân ra cứu
hỏa, tu bổ công sự.
Thời điểm này, Pháp Chính "ngắm chuẩn" cơ hội, đề
xuất Lưu Bị tổng lực tấn công Uyên.
Lưu Bị lập tức lệnh Hoàng Trung đột kích từ hậu
phương. Hạ Hầu Uyên trở tay không kịp, chết dưới tay lão tướng Hoàng
Trung.
Thất bại của Hạ Hầu Uyên khiến Tào Ngụy để mất thế
chủ động trong chiến dịch Hán Trung vào tay Lưu
Bị.
Không lâu sau, Tào Tháo đích thân Tây chinh, nghe
tin Pháp Chính là người hiến kế cho Lưu Bị, cảm khái nói - "Ta đã biết Huyền Đức
không có khả năng thực hiện việc này, tất phải có người bày mưu
hắn".
Chiến sự sau đó, mặc dù binh lực của Tào chiếm ưu
thế, nhưng Lưu Bị luôn chọn phương án an toàn, không giao chiến với quân
Tào.
Về sau, Tào Tháo bất đắc dĩ phải lui quân, để cho
Lưu Bị "thoải mái" chiếm cứ Hán Trung.
Năm Kiến An thứ 24 (219, Hán Hiến Đế), Lưu Bị tự
lập làm Hán Trung Vương, phong Pháp Chính làm Thượng thư lệnh, kiêm Hộ quân
tướng quân.
Lấy được Hán Trung là một trong những chiến thắng
trọng yếu của Thục Hán, giúp Thục hình thành cục diện "tam phân thiên hạ" với
Ngô - Ngụy về sau.
Pháp Chính là một tài năng quân sự bẩm sinh, được
Lưu Bị vô cùng ưu ái.
Trong một chiến dịch đối đầu với Tào Ngụy, tình thế
quân Thục bất lợi, vốn dĩ phải lui quân, song Lưu Bị tức giận kiên quyết không
nghe.
Lúc này, Pháp Chính lao ra chặn trước loạn tiễn,
khiến Lưu Bị phải hốt hoảng can ngăn - "Hiếu Trực tránh
tên".
Pháp Chính đáp lại - "Minh công cũng mạo hiểm trước
mưa tên, huống chi hạ thần?".
Lời Pháp Chính khiến Lưu Bị đành phải nghe lời ông
mà rút quân, đủ thấy Bị trọng vọng Pháp Chính tới mức
nào.
~ Qua đời
Năm 220, Pháp Chính qua đời, thọ 45 tuổi. Cái chết
của ông khiến Lưu Bị vô cùng thương cảm, than khóc nhiều
ngày.
Sau khi mất, Pháp Chính được Lưu Bị phong làm Dực
Hầu, là vị đại thần duy nhất được truy phong thụy hiệu dưới thời Lưu
Bị.
Pháp Chính lớn hơn Khổng Minh 4 tuổi, mặc dù tính
cách cũng như đời sống cá nhân 2 ông có nhiều khác biệt, nhưng có điểm chung là
cả 2 đều "lấy việc công làm trọng".
"Tiên chủ truyền nói: Gia Cát Lượng là trọng thần,
Pháp Chính là mưu chủ".
Gia Cát Lượng chưởng quản nội vụ, hậu cần, còn Pháp
Chính làm quân sư theo quân đội chinh phạt.
Sau này, vụ lùm xùm Quan Vũ - Tôn Quyền khiến liên
minh Ngô - Thục trở mặt thành thù, Lưu Bị quyết Đông chinh phạt Ngô, bất chấp
quần thần can gián.
Năm Chương Vũ thứ 2 (222), quân Thục Hán thảm bại ở
trận Di Lăng, Bị lui về thành Bạch Đế, 2 năm sau thì
mất.
Gia Cát Lượng đau khổ cảm thán - "Nếu Pháp Hiếu
Trực còn, ắt có thể can gián Chủ thượng.
Cho dù Đông chinh, cũng không thể thất
bại".
Trên thực tế, Gia Cát Khổng Minh cũng rất khâm phục
tài năng hiếm có trên lĩnh vực quân sự của Pháp
Chính.
Giai đoạn chiến tranh trước khi Lưu Bị qua đời,
nhóm Pháp Chính, Bàng Thống được đánh giá cao hơn Gia Cát Lượng, một phần cũng
do bọn họ xuất hiện nhiều hơn trên lĩnh vực quân sự, trong khi Gia Cát Lượng
quản lý hậu phương.
Sử gia Trần Thọ khen ngợi năng lực quân sự của Pháp
Chính là "có thể sánh với 'thiên tài' Quách Gia của Tào
Ngụy".